Giỏ hàng 0
0974881495
Sách hay
Hỗ trợ khách hàng
  Tư vấn khách hàng 1
  Tư vấn khách hàng 2
0332 826 027
0974881495
Quảng cáo
Lan Nhã Trà Quán SYM


LƯỢC SỬ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ NĂM 1951 ĐẾN NĂM 1975 (14/12/2016)

LƯỢC SỬ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM 
TỪ NĂM 1951 ĐẾN NĂM 1975

Thích Giác Toàn
 

blankI. TỔNG QUAN

Việc chọn năm 1951 làm một cái mốc trong việc phân kỳ lịch sửbáo chí Phật giáo Việt Nam dẫn xuất từ sự kiện Tổng hội Phật giáo Việt Nam được thành lập vào ngày 9-5-1951 (mùng 4 tháng Tư năm Tân Mão), quy tụ được các tập đoàn Phật giáo của cả ba miền Bắc-Trung-Nam, được coi là một mục tiêu đã thành tựucủa phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam; thành công này có sự đóng góp tích cực của báo chí Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, trong điều kiện một đất nước đang có chiến tranh, thành công đó đã không thể được phát huy để làm nền tảng cho việc xây dựng một sự thống nhất thực sự của Phật giáo Việt Nam. Những diễn biến chính trị tiếp theo đã không hỗ trợ cho sự phát triển của báo chí Phật giáo Việt Nam như mong muốn của mọi người.  

1. Bối cảnh chính trị từ 1951 đến 1963

Vào năm 1951, Việt Nam đang còn trong tình trạng chiến tranh. Trước đó, vào năm 1948, người Pháp đã lập một chính phủ Quốc gia để có một bộ mặt hợp pháp nhằm tấn công kháng chiến với mong muốn giành được quyền kiểm soát toàn bộ đất nước; chính phủ này được khối Tự do đứng đầu là Hoa Kỳ ủng hộ. Để đối phó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa buộc phải ngả hẳn vào sự viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô. Vào năm 1954, khi cuộc chiến tạm ngã ngũbằng hiệp định Genève chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17 thì Việt Nam trở thành hai quốc gia có hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc tiếp tục dồn mọi nỗ lực cho việc thống nhất đất nước vì hiệp định Genève có quy định việc chia đôi đất nước chỉ là tạm thời và hai miền sẽ hiệp thương để thống nhất vào năm 1956. Miền Nam phủ nhận hiệp thương, quyết tâm xây dựng một đất nước riêng trông cậy vào sự trợ giúp của thế giới tự do. Miền Nam có một chính quyền dựa vào thế lực của Giáo hội Thiên chúa giáo La Mã Vatican nên có thái độ áp chế đối với Phật giáo. Tháng 12 năm 1960, miền Bắc chỉ đạothành lập

một Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam để tiện lãnh đạo việc nổi dậy của dân chúng, từng bước dấy lên chiến tranh khiến miền Nam phải kêu gọi sự viện trợ quân sự của nước ngoài. Trong điều kiện đó, hoạt động Phật giáo cũng chịu ảnh hưởng, báo chí Phật giáo Việt Nam không đóng góp được gì nhiều trong công cuộc hoằng pháp và xây dựng văn hóa dân tộc. Thái độ kỳ thị tôn giáo của chính quyền miền Nam đã đẩy người Phật tử miền Nam Việt Nam đến chỗ phải phản ứng. Cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 lật đổ chế độ của Tổng thống miền Nam Ngô Đình Diệm là biến cố dẫn xuất từ cuộc đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng và được bình đẳng đối xử của người Phật tử miền Nam Việt Nam, đã mang lại cho Phật giáo Việt Nam ở miền Nam một cơ hội phát triển.

2. Bối cảnh chính trị từ 1963 đến 1975

Sau khi chính quyền miền Nam do Ngô Đình Diệm lãnh đạo bị lật đổ, hoạt động Phật giáo có phần khởi sắc. Tiếc rằng sau đó sự tranh chấp của các phe phái khiến tình hình miền Nam ngày một suy sụp, vùng giải phóng ngày một lan rộng, đe dọa sự tồn tại của miền Nam, dẫn đến việc Hoa Kỳ và các nước đồng minh phải trực tiếp tham chiến; những đơn vị Thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên đã đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 8-3-1965. Miền Bắc tận dụng cơ hội cũng công khai đưa quân vào Nam; chiến tranh Việt Mỹ bùng nổ. Sau những ngày đầu giành được một vài thắng lợi, quân Mỹ dần dần sa lầy trước chiến thuật du kích của quân miền Bắc và phải từng bước leo thang chiến tranh, đưa máy bay ra đánh phá miền Bắc. Trước những hình ảnh bi thảm của chiến tranh được lực lượng nhà báo chuyên nghiệp quốc tế truyền đi khắp thế giới, dư luận năm châu lên án người Mỹ, các cuộc biểu tình phản chiến lan rộng khắp nơi đòi người Mỹ chấm dứt chiến tranh. Đầu năm 1968, miền Bắc tung ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, đợt đầu diễn ra ngay trong ngày Tết Nguyên đán năm Mậu Thân, để cho thấy những nỗ lực chiến tranh của người Mỹ là không có kết quả. Tháng ba năm 1968, Mỹ giảm ném bom miền Bắc để tạo điều kiện thương lượng kết thúc cuộc chiến. Trước áp lực dư luận quốc tế và ngay tại Hoa Kỳ, cộng với tình trạng thiếu hiệu quả của chính quyền miền Nam, người Mỹ quyết định rút quân, tiến hành kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh. Trong thời gian đó, những cuộc hòa đàm vẫn tiếp tục. Miền Bắc cho thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam vào ngày 8-6-1969 để các thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam có điều kiện trở thành một thành phần tham dự hòa đàm. Ngày 4-8-1969, cuộc đàm phán chấm dứt chiến tranh Việt Nam khai diễn tại Paris với Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là hai chủ thể thương lượng chính, bên cạnh có chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Trong quá trình hòa đàm, chiến tranh tiếp tục lan rộng. Ngày 27- 01-1973, hiệp định Paris được ký kết nhưng các bên đều có những vi phạm hiệp định. Người Mỹ rút hoàn toàn quân đội tham chiến của họ ra khỏi Việt Nam vào tháng ba năm 1973, chỉ để lại một số đơn vị hậu cần và hành chánh. Cũng trong năm 1973, viện trợ quân sự của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam Cộng hòa bị cắt hẳn khiến miền Nam phải tiếp tục chiến đấu trong tuyệt vọng. Tháng ba năm 1975, quân đội miền Bắc ồ ạt tiến công miền Nam và kết thúc cuộc chiến vào ngày 30-4-1975 khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng. Cuộc chiến tranh để hoàn tất việc thống nhất đất nước khởi phát từ tháng 12-1946 đã chấm dứt với nhiều đau thương. Trong hoàn cảnh chính trị như vậy, hoạt động Phật giáo ở miền Bắc không thể tồn tại; trong khi đó, Phật giáo ở miền Nam hồi phục một phần sinh khí nhưng vì bị tác động mạnh bởi chiến tranh và các quan điểnm khác nhau về chiến tranh nên đã phân hóa. Tuy vậy, báo chí Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn này lại đã tận dụng được hoàn cảnh để đẩy mạnh hoạt động và đã góp phần vào việc làm dấy lên một không khí nghiên cứu Phật học, đặc biệt về Thiền học Phật giáo, khá sôi nổi như được thấy trong những trình bày dưới đây.

II. BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI KỲ CỦNG CỐ 1951-1963

1. Tổng quan

Từ 1951 đến 1963, có thể cho rằng báo chí Phật giáo Việt Nam phải bước vào một giai đoạn thoái trào trước hoàn cảnh chính trị không thuận lợi. Giai đoạn này có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ khác là từ 1951 đến 1954 và từ 1954 đến 1963 căn cứ theo những diễn biến chính trị có tác động đến toàn xã hội.

2. Từ 1951 đến 1954: Giai đoạn chuyển tiếp

Trong giai đoạn này, hầu hết những tờ báo Phật giáo trong vùng giải phóng đều tự ý đình bản và tập trung vào việc tham gia các hoạt động kháng chiến chống Pháp. Chỉ trong vùng tạm chiếm do chính phủ Quốc gia thuộc Pháp quản lý, một số tờ báo Phật giáo tiếp tục hoạt động. Các nghiên cứu về lịch sửbáo chí Việt Nam đã ghi nhận sự có mặt của những tờ báo Phật giáo sau đây:

tapsanphuongtiena. Tạp chí Phương Tiện là một bán nguyệt san xuất hiện vào ngày rằm và mồng một hàng tháng, hoạt động với tính cách là cơ quan hoằng dương Phật pháp của Hội Tăng Ni Chỉnh lý Bắc Việt, đã phát hành từ năm 1949 do Hòa thượng Tố Liên làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, và tiếp tục hoạt động cho tới tháng 7 năm 1954. Ngoài việc dịch thuật để phổ biến những bài viết của các tác giả thuộc phong trào chấn hưng Phật giáo Trung Quốc như Đại sư Thái Hư, Pháp sư Đế Nhàn, Cư sĩ Đường Đại Viên…, đăng lại những bài viết của các tác giả Việt Nam như Nguyễn Trọng Thuật, Bùi Kỷ, Thiều Chửu… tạp chí quy tụ được những cây bút mới như Viên Quang, Thanh Kiểm, Tâm Giác, Tâm Châu, Quảng Độ, Khánh Vân, Thanh Hương. Sư Trí Hải và Sư Tố Liên cũng thường xuyên có bài viết trên Phương Tiện.

b. Tháng 9-1949, một hiệp hội Phật giáo khác ra đời ở miền Bắc gọi là Hội Phật tử Việt Nam có trụ sở chính ở chùa Chân Tiên, phố Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Nguyệt san Bồ ĐềHội cho xuất bản nguyệt san Bồ Đềlàm cơ quan truyền bá đạo Phật, do cư sĩ Tuệ Nhuận Văn Quang Thùy làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Bồ Đề có sự đóng góp của những cây bút như Nguyễn Xuân Chữ, Lê Văn Giáp, Hồng Liên, Đế Châu, Vũ Đình Mẫn, Trí Dung, Thanh Văn, Lê Văn Lương, Cát Tường Lan, Nguyễn Đại. Hội Phật tử Việt Nam và nguyệt san Bồ Đề đã là hạt nhân để xây dựng phong trào Gia đình Phật tử ở miền Bắc với sự đóng góp tích cực của một vị Ni là Ni sư Hải Triều Âm.

c. Tin Tức Phật Giáo ban đầu là một phụ trương biếu không của Tập san Phương Tiện, phát hành số đầu tiên vào ngày 1-9-1951 ra mỗi tuần một kỳ với mục đích chuyên đăng tải các tin tức liên quan đến Phật giáo trong nước và trên thế giới, phát hành được 66 số thì đình bản vào ngày 3-1-1953 vì lý do tài chánh. Sau đó, tờ Tin Tức Phật Giáo được tục bản với tính cách là một tờ báo riêng do Hội Việt Nam Phật Giáo quản lý chứ không phụ thuộcPhương Tiện nữa.

d. Nhân Phật đản năm Kỷ Sửu (1949), An Nam Phật học hội ở miền Trung cho ra đời tạp chí Giác Ngộdo cư sĩ Tâm Huệ Tráng Đinh làm chủ nhiệm và Cư sĩ Võ Đình Cường làm chủ bút. Tạp chí cũng là một bán nguyệt san ra ngày mồng một và ngày rằm mỗi tháng. Tạp chí có sự đóng góp bài vở của các tác giả Thích Mật Nguyện, Thích Thiên Ân, Thích Giác Hạnh, Nguyễn Hữu Ba, Tống Hồ Cầm (Tống Anh Nghị), Hùng Khanh, Trương Tú, Cao Khả Chính, Trịnh Tiên, Lê Bối, Phạm Đăng Trí, Huyền Chân, Nguyên Phương; Trúc Diệp… Tạp chí đình bản vào năm 1952.

Nguyệt san Viên Âme. Song song với Giác Ngộ, An Nam Phật học hội cho tục bản tờ Viên Âm do cư sĩ Chơn An Lê Văn Định làm chủ nhiệm, Pháp sư Thích Trí Quang làm chủ bút, được sự chứng minh của các vị Hòa thượng chùa Tường Vân, chùa Thuyền Tôn và chùa Tây Thiên. Viên Âm vẫn là một tờ nguyệt san và có bài vở đóng góp bởi các vị Thích Thiện Siêu, Thích Thiện Minh, Thích Mật Nguyện, Thích Minh Châu. Tạp chí Viên Âm cũng đình bản vào năm 1954.

f. Vào năm 1950, một nguyệt san có tên là Hướng Thiện do Thiền sưThích Thiện Minh làm chủ nhiệm xuất hiện tại Đà Lạt. Tạp chí này ra ngày 1 âm lịch hàng tháng. Số đầu phát hành trong tháng Sáu năm Canh Dần. Số 8 phát hành vào dịp Xuân Tân Mão (1951) và tự ý đình bản vào khoảng giữa năm 1951.

Tạp chí Liên Hoag. Tiếp theo Hướng Thiện, tập san Liên Hoa do một tổ chức Phật tử trí thức ở Đà Lạt có tên là Phật giáo Thiện hữu chủ trương xuất bản, số báo đầu tiên ra ngày 18-12-1952. Chủ nhiệm là Huỳnh Văn Trọng, chủ bút là Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một người Pháp làm quản lý là Pierre Marti. Tập san này có mặt đến năm 1954.

3. Từ năm 1954 đến 1963: Giai đoạn thoái trào

Năm 1954, sau khi đất nước bị chia đôi, một số vị đã đóng góp cho hoạt động báo chí Phật giáo ở miền Bắc cũng di cư vào Nam mặc dù đại đa số đều ở lại; trong khi đó, cũng không ít vị đã đóng góp cho hoạt độngbáo chí Phật giáo ở miền Trung và miền Nam lại ra Bắc. Tuy nhiên, sau đó, hoạt động Phật giáo ở miền Bắc đi vào chiều sâu. Hầu hết báo chíPhật giáo miền Bắc đều tự đình bản. Đa số các tu sĩ Phật giáo ở miền Bắc trở về chùa thanh tu và tự lực sản xuất để mưu sinh, không tham gia vào hoạt động thế tục nữa.

Ở miền Nam, báo chí Phật giáo tiếp tục có mặt nhưng cũng rất hạn chế. Điều này cũng không có gì khó hiểu khi ngay từ những ngày đầu chấp chánh, chính phủ Ngô Đình Diệm đã chủ trương xây dựng một đất nước trên căn bản duy linh và theo đường lối nhân vị, là những quan điểm sống dựa trên tư tưởngThiên chúa giáo. Những người Phật tử ở miền Nam hiểu ngay rằng việc tích cực phổ biến Phật học sẽ là điều không hợp với con mắt chính quyền. Trong hoàn cảnh đó, người Phật tử miền Nam vẫn cố gắngduy trì một sinh hoạt báo chí Phật giáo ở mức độ cầm chừng. Các nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt Nam vẫn ghi nhận các tờ báo Phật giáo nêu sau:

Tạp chí Từ Quanga. Tạp chí Từ Quang là một trong những tờ báo đã xuất hiện từ năm 1951 và vẫn hoạt động liên tục. Từ Quang là cơ sở hoằng pháp của Hội Phật học Nam Việt do cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Ban đầu tòa soạn của Từ Quang đặt ở chùa Ấn Quang. Sau khi chùa Xá Lợi được xây dựng xong vào năm 1958 để làm trụ sở chính của hội thì báo quán của Từ Quang cũng dời về đấy. Trong giai đoạn từ 1951 đến 1963, việc biên tập tạp chí Từ quang đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn của chư tăng thuộc Phật học đường Nam Việt. Từ Quang là tạp chí Phật giáo duy nhất hoạt động xuyên suốt từ 1951 đến 1975.

Nguyệt san Phật giáo Việt Namb. Mặc dù được thành lập từ năm 1951 và rất mong muốn có một tiếng nói độc lập, mãi đến năm 1956, Tổng hội Phật giáo Việt Nam mới cho ra đời cơ quanngôn luận chính thức là nguyệt san Phật Giáo Việt Nam. Trong kỳ Đại hội lần hai họp vào tháng 4 năm 1956, Tổng hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục suy tôn Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Tổng hội chủ, mời Hòa thượng Thích Huệ Quang và Cư sĩ Chơn An Lê Văn Định làm Phó Tổng hội chủ, cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Tổng thư ký. Cũng trong Đại hội, Hòa thượng Huệ Quang được tín nhiệm giao tổ chức cơ quan ngôn luận cho Tổng hội. Ngày rằm tháng tám năm Bính Thân (19-9-1956), Phật Giáo Việt Nam phát hành số đầu tiên. Tạp chí do Hòa thượng Thích Huệ Quanglàm chủ nhiệm và Thượng tọa Thích Nhất Hạnh là chủ bút. Tuy nhiên, chỉ sau ba số thì ngài Huệ Quangviên tịch và Thượng tọa Nhất Hạnh được giao kiêm chủ nhiệm.

Tuy nói là thống nhất nhưng Tổng hội Phật giáo Việt Nam vẫn không có thực quyền lãnh đạo, hai đơn vịcó thực lực nhất là An Nam Phật học hội ở Trung kỳ và Hội Phật học Nam Việt ở Nam kỳ vẫn có những hoạt động riêng rẽ. Cho đến kỳ đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Tổng hội Phật giáo Việt Nam họp tại Sài Gòn ngày 17-8-1957, vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Vì thế, một trong những mục tiêu vận động của nguyệt san Phật giáo Việt Nam là kêu gọi sự thống nhất triệt để đối với mọi tổ chức Phật giáo, chấp nhận chương trình hành động của Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Đây là một đề tài được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bài viết đăng tải trên nguyệt san Phật giáo Việt Nam.

Bên cạnh đó, nguyệt san Phật Giáo Việt Nam đề cao việc xây dựng một xã hội nhân bản trên tinh thầnduyên sinh cộng nghiệp chứ không đi trệch qua hướng giác ngộ về quyền lợi hoặc chấp nhận quan điểmduy linh hữu thần. Về phương diện xây dựng hòa bình độc lập và thống nhất cho dân tộc, nguyệt san Phật Giáo Việt Nam chủ trương đấu tranh bất bạo động theo hướng trung đạo, không thiên về cộng sản mà cũng không ngả theo tư bản. Ngoài ra, nguyệt san cũng có những bài viết chú trọng đến việc đào tạo tăng tài, hoằng dương chánh pháp. Tuy vậy, nội dung của nguyệt san không hoàn toàn khô khan với những luận thuyết mà luôn luôn có nét uyển chuyển tươi tắn với những mục chuyên về văn học nghệ thuật. Trong số những người cộng tác cho tờ báo ta thấy có Tuệ Uyển, Thiện Hoa, Nguyễn Văn Hầu, Nguyễn Hữu Ba, Huyền Không, Thạc Đức, Trí Đức, Minh Châu, Thanh Từ, Cao Khả Chính, Tắc Phước, Như Quán, Tâm Hỷ, Tâm Châu, Minh Đức, Trọng Đức, Thiều Chi, Lê Văn Định, Thẩm Oánh, Tống Anh Nghị, Dã Thảo, Hoàng Hoa, Tâm Quán, Trúc Diệp, Dương Xuân Dưỡng, Kiêm Minh, ... Do thường xuyên phê bình tình trạng duy trì bản vị riêng của các tập đoàn Phật giáo, nguyệt san Phật Giáo Việt Nam không nhận được sự giúp đỡ về tài chánh; do đó, nguyệt san chỉ ra được đến số 28 thì phải đình bản vào giữa năm 1959. Tuy không đạt được mục tiêu mong muốn nhưng nguyệt san Phật Giáo Việt Nam vẫn khắc họa được sự khao khát thống nhất Phật giáo trong lòng người con Phật Việt Nam và phần nào nêu lên được chính kiến của Phật tử Việt Nam về các vấn đề trọng đại của dân tộc.

Vị Chủ nhiệm đầu tiên của tờ Phật giáo Việt Nam là Hòa thượng Thích Huệ Quang (1888 – 1956) thế danh là Nguyễn Văn Ân, người ở Ô Môn, Cần Thơ, thưở nhỏ sống ở Trà Vinh, sau xuất gia ở chùa Long Thành quận Trà Cú với thiền sư Thiện Trí, được bổn sư đặt pháp danh là Thiện Hải, được trao truyền cả Phật học lẫn y thuật phương Đông. Một hôm đi ngang Tiểu Cần thấy một ngôi chùa đổ nát, ngài phát tâm trùng tu khiến dân chúng sinh lòng kính mến mời ngài về làm trú trì và hết sức ủng hộngài trong việc trùng tu. Nhờ vậy, ngôi chùa ấy, chùa Long Hòa, đã trở thành một đạo tràng thanh tịnh. Sau này, ngài đắc pháp với thiền sư Từ Vân và được ban pháp hiệu Huệ Quang. Nhờ đọc rộng, ngài sớm biết đến phong trào chấn hưng Phật pháp ở châu Á nên đã cùng các vị Khánh Hòa và Khánh Anh xúc tiến công cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà. Hội Lục hòa đã được thành lập tại chùa Long Hòanơi ngài trú trì. Ngài cũng tham dự vào việc thành lập hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học cũng như hộiLưỡng Xuyên Phật học. Năm 1945, chiến tranh xảy ra, hội Lưỡng Xuyên Phật học và Phật học đường phải ngưng hoạt động. Đại chúng ly tán, rồi quân đội Pháp chiếm đóng cơ sở Phật học hội, ngài lui vềchùa Long Hòa ở Tiểu Cần tĩnh tu. Năm 1953, ngài được Giáo hội Tăng già Nam Việt suy tôn lên ngôiPháp chủ. Năm 1956 trong Đại hội Tổng hội Phật giáo Việt Nam lần hai tại Sài Gòn, ngài được bầu làm phó Tổng hội chủ và được mời làm Chủ nhiệm tạp chí Phật Giáo Việt Nam. Ngày 10 tháng 11 năm 1956, ngài cùng phái đoàn Phật giáo Việt Nam dự Hội nghị Phật giáo Thế giới lần thứ tư tại Népal. Trên đường về, phái đoàn dừng lại ở New Delhi quan sát Đại hội Văn hóa Quốc tế và cuộc triển lãm Nghệ thuật Phật giáo. Ngài cùng với Hòa thượng Tổng hội chủ Thích Tịnh Khiết đến dự cuộc mít tinh tổ chức tại công trường Ramila và viếng các Phật tích. Sau khi chiêm bái Phật tích về, ngài đã đột ngột từ trần vì tai biến mạch máu não, hưởng thọ 68 tuổi với 37 năm hoằng hóa. Nhục thân ngài được hỏa táng tại Ấn Độ. Thiền sư Huệ Quang viên tịch khi tạp chí Phật Giáo Việt Nam mới ra đời được ba số.

Liên Hoa văn tậpc. Vào tháng 2 năm 1955, tại Huế, Ni sư Thích nữ Diệu Không phụ trách Liên Hoa tùng thư cho xuất bản một tập văn có tên là Liên Hoavăn tậpĐến tháng 11 năm ấy, trong phiên họp bất thường của Giáo hội Tăng già Trung Việt tại chùa Báo Quốc, Ni sư Diệu Không có nhã ýtrao Liên Hoa văn tậplại để làm cơ quan truyền bá Phật pháp của Giáo hội. Giáo hội giao cho Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, Ni sưDiệu Không làm quản lý. Số 1 bộ mới phát hành trong dịp Tết Nguyên đán năm Bính Thân (1956) lấy tên là Tạp chí Liên Hoa, ra hàng tháng, có sự cộng tác của nhiều vị học tăng đang du học ở ngoại quốc bên cạnh những cây bút quen thuộc như Thích Trí Quang, Võ Đình Cường, Nguyễn Thái. Sau vụ pháp nạn năm 1963, sang đầu năm 1964, tạp chí tiếp tục xuất hiện với tên ghi ngoài bìa báo là lienhoanguyetsanLiên Hoa nguyệt san nhưng chỉ đến năm 1966 thì đình bản.

4. Nhận xét

Nhìn chung, trong giai đoạn này, chỉ có Phật giáo trong vùng tạm chiếm và sau đó là Phật giáo ở miền Nam là có hoạt động hướng vào xã hộivà cũng chỉ là những hoạt động mang tính cầm chừng. Thật vậy, sau năm 1954, ở miền Bắc, trong không khí dồn toàn lực cho việc xây dựngxã hội xã hội chủ nghĩa và ra sức chi viện cho miền Nam đấu tranh đòi thống nhất đất nước thì Phật giáo không có lý do để hoạt động; trong khi đó, ở miền Nam, sự áp chế của một chính quyền chủ trương độc thần cũng không chừa một chỗ đứng thoải mái cho người Phật tử. Ngay từ năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm đã toan tính khôngcông nhận ngày lễ Phật đản là ngày lễ chính thức của quốc gia và đã một lần phải tạm nhượng bộ trước đòi hỏi của người Phật tử. Trong điều kiện đó, sự có mặt của một vài tờ báo Phật giáo vẫn có tác dụng nung đúc tinh thần Phật tử Việt Nam. Có thể nói đây là thời kỳ củng cố của Phật giáo Việt Nam, vì lẽ, tuy chưa thật sự thống nhất, các tập đoàn Phật giáo vẫn có những sự liên hệ với nhau, giúp đỡ nhau, và tận dụng mọi cơ hội để đưa người đi học ở nước ngoài với hy vọngcó một ngày mai tươi sáng hơn.

III. BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI KỲ PHÁT TRIỂN 1964 – 1975

1. Tổng quan

Có thể thấy đây là thời kỳ phát triển của báo chí Phật giáo miền Nam Việt Nam. Mặc dầu ngay từ năm 1967 đã có sự rạn nứt trong hàng ngũ lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vừa mới được thành lập sau cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, hoạt động báo chí Phật giáo trong thời kỳnày cũng vẫn thực sự khởi sắc và đã tạo tiền đề cho các hoạt động nghiên cứu Phật học sau này. Giới nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt Nam cũng nhận ra có hai giai đoạn nhỏ trong lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam thuộc thời kỳ này: giai đoạn từ 1964 đến 1966 thể hiện sự bồng bột của giới làm báo Phật giáo trước sự cởi trói của chế độ kiềm chế về tôn giáo dưới thời Ngô Đình Diệm; giai đoạn từ 1967 đến 1975 thể hiện thái độ điềm tĩnh hơn khi thấy các chế độ nối tiếp của chế độ Ngô Đình Diệm cũng vẫn chịu sự khuynh loát của các thế lực phi Phật giáo. Mặt khác, tình trạng chiến tranh ngày một lan rộng cũng tác động nhiều đến nội dung báo chí Phật giáo thời kỳ này.

2. Từ 1964 đến 1966: Giai đoạn bộc phát

Cuộc tranh đấu đòi quyền bình đẳng về tôn giáo ở miền Nam Việt Nam năm 1963 đã có một tác dụng to lớn là thắt chặt sự đoàn kết của mọi tập đoàn Phật giáo đang tồn tại lúc bấy giờ. Vào lúc đỉnh điểm của cuộc tranh đấu là ngày 20-8-1963, hầu như mọi tổ chức Phật giáo đều chia sẻ sự mất mát xảy ra từ cuộc đàn áp tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Phật tử Việt Nam trong giai đoạn ấy đã thực thi chủ trương bất bạo động một cách nghiêm túc; họ cố gắng tránh né sự thiệt hại và sẵn sàng hy sinhtrong trường hợp không thể tránh né được. Do vậy, mọi hình ảnh hoặc sự tường thuật thể hiện hoạt động chống trả, tấn công hay khiêu khích của người Phật tử Việt Nam đối với lực lượng đàn áp họ trong thời gian từ tháng 5-1963 đến tháng 10-1963 đều là ngụy tạo. Vào trước ngày xảy ra cuộc đảo chánh 1-11-1963, hầu hết các vị lãnh tụ Phật giáo thuộc nhiều tổ chức khác nhau đều đã bị bắt giam hoặc phải trốn tránh. Vì vậy, sau khi kết thúc cuộc chính biến, các tổ chức Phật giáo đều cảm thấy cần phải ngồi lại với nhau để thành lập một Giáo hội thống nhất. Một cuộc họp đã được tổ chức tại chùa Xá Lợi vào ngày 31-12-1963 quy tụ đại biểu của 11 Giáo phái, Hội đoàn Phật giáo khác nhau. Ngày 4-1-1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chính thức ra đời với một bản Hiến chương có tổng cộng 11 Chương, 32 điều đã được 11 vị trưởng phái đoàn các Giáo phái, Hội đoàn duyệt nhận ký tên. Giáo hộisuy tôn ngài Thích Tịnh Khiết làm Viện trưởng Viện Tăng thống và suy cử ngài Thích Tâm Châu làm Viện trưởng Viện Hóa đạo. Trụ sở của Giáo hội được đặt tại chùa Ấn Quang. Trong không khí thắng lợibước đầu ấy, báo chí Phật giáo Việt Nam hồi sinh mạnh mẽ. Lịch sử ghi nhận những tờ báo sau đây có mặt trong thời kỳ này:

Tuần báo Đuốc Tuệa. Xuất hiện sớm nhất sau khi kết thúc vụ Pháp nạn năm 1963 là tuần báo Đuốc Tuệ, tiếng nói của Phật giáo miền Vĩnh Nghiêm trong GHPGVNTN. Xin nói thêm rằng theo Hiến chương GHPGVNTN thì lãnh thổ miền Nam được phân thành các miền Hành chánh Giáo hội, trong đó đặc biệt miền Vĩnh Nghiêm là miền quy tụ Tăng Ni Phật tửmiền Bắc di cư. Tuần báo Đuốc Tuệ ra ngày thứ bảy hàng tuần, số đầu tiên phát hành ngày Rằm tháng Giêng năm Giáp Thìn (27-2-1964) do Thượng tọa Thích Chính Mệnhlàm chủ nhiệm, Thượng tọa Thích Đức Nghiệp làm Chủ bút, Thượng tọa Thích Huyền Minh làm Quản lý. Ban đầutòa soạn báo đặt tại chùa Giác Minh là Trụ sở của Hội Tăng già Bắc Việt tại miền Nam. Về sau, khi chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng xong trên đường Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) thì báo quán Đuốc Tuệ được dời về đó. Thành phần quản lý tờ báo cũng thay dổi theo từng thời kỳ và có lúc Thượng tọa Thích Thanh Kiểm được giao nhiệm vụ Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Nội dung của Đuốc Tuệ cũng bao gồm những vấn đề về Phật pháp, về giáo lý phổ thông, đăng tải từ điển về Phật học… bên cạnh việc giới thiệu văn hóa và n